10 cuốn sách có thể thay đổi cuộc đời bạn

“Nếu một người đọc đủ sách, anh ta sẽ có được cơ hội ngàn vàng để thành công. Hoặc tuyệt hơn nữa, cơ hội sống sót của một người tăng lên theo từng cuốn sách anh ta đọc” – Sherman Alexie.

10 thói quen mà nam giới chưa 25 quá 20 cần xây dựng để “cứng” hơn khi bước chân ra đời

“20 tuổi đầu” là quãng thời gian đẹp nhất, tuyệt vời nhất và cứ cho là khỏe mạnh nhất của nam giới (dù rất thiếu kinh nghiệm).

Ngọn núi cao nhất thế giới chưa ai chạm tới?

Nóc nhà thế giới là đỉnh Everest cao 8.848 m trên dãy Himalaya, bất cứ tay leo núi cự phách nào cũng ao ước một lần chinh phục. Tuy nhiên, đỉnh núi cao nhất thế giới chưa có người chinh phục tới là ...

Con muốn trồng hoa bách nhật nơi này

Ông Tường liệng mạnh nắp xoong lên bức tường gỗ kêu cái choảng khiến thằng Cò giật mình. Mắt trừng trừng tia lửa đạn quát thằng Cò như đứa con ghẻ....

MA TRẬN EISENHOWER - PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ THỜI GIAN HIỆU QUẢ CỦA VỊ TỔNG THỐNG MỸ

Bạn nghĩ mình rất bận rộn, nhưng liệu có thực sự như vậy ? Hãy thử áp dụng phương pháp sắp xếp thời gian dưới đây của Cố Tổng thống Mỹ Eisenhower

Thứ Sáu, 12 tháng 1, 2024

Chỉ báo RSI là gì?

 

RSI là chỉ báo kỹ thuật giúp nhà đầu tư phát hiện tình trạng quá mua hoặc quá bán trên thị trường.

RSI là viết tắt của Relative Strength Index - chỉ số sức mạnh tương đối. Chỉ báo RSI tính toán tỷ lệ giữa mức tăng giá và giảm giá trung bình trong một khoảng thời gian nhất định, thể hiện tình trạng quá mua và quá bán của thị trường.

RSI là chỉ báo trong phân tích kỹ thuật, có thể áp dụng đối với nhiều loại tài sản như chứng khoán, tiền điện tử, hàng hóa, ... Chỉ báo này được ra đời vào năm 1978 bởi ông J. Welles Wilder.

Thời gian để tính toán độ dao động RSI thường lấy con số 14, ví dụ như 14 ngày nếu xem theo đồ thị ngày, 14 giờ nếu xem theo đồ thị giờ, .... Chỉ số RSI được tính theo công thức như sau.

Chỉ báo RSI là gì?

Giá trị của RSI được biểu diễn trên thang từ 0 đến 100. Trong đó, nếu RSI lớn hơn 70, về lý thuyết có nghĩa là cổ phiếu đang bị mua quá mức. Điều này cũng cảnh báo xu hướng tăng giá có khả năng bị đảo ngược.

Ngược lại, nếu RSI nhỏ hơn 30 có nghĩa là cổ phiếu đang bị bán quá mức, cho biết giá chứng khoán có thể gần chạm đáy và chuẩn bị quay đầu tăng.

Ở giữa mức 30 và 70 được coi là vùng trung tính, với mức 50 được là dấu hiệu không có xu hướng.

Để chắc chắn hơn các tín hiệu, nhà đầu tư có thể điều chỉnh chỉ báo RSI để đặt 20 và 80 là các mức quá bán và quá mua thay vì 30 và 70.

RSI vượt trên 70 cho thấy tình trạng quá mua.

RSI vượt trên 70 cho thấy tình trạng quá mua. Ảnh: TradingView

Bên cạnh việc thể hiện tình trạng quá bán hoặc quá mua, nhà đầu tư cũng có thể sử dụng phân kỳ RSI để dự đoán xu hướng đảo chiều hoặc xác định các mức hỗ trợ và kháng cự.

Sự phân kỳ xảy ra khi giá chứng khoán di chuyển theo hướng ngược lại so với chỉ báo kỹ thuật. Điều này cảnh báo xu hướng giá hiện tại có thể đang suy yếu và nguy cơ dẫn đến sự thay đổi hướng của giá. Trong đó có hai loại là phân kỳ âm và phân kỳ dương.

- Phân kỳ dương: RSI tăng tạo đáy cao trong khi giá giảm tạo đáy thấp, cảnh báo đà tăng mạnh bất chấp xu hướng giá giảm.

- Phân kỳ âm: RSI giảm và tạo đỉnh thấp trong khi giá tài sản tăng tạo đỉnh cao hơn, cảnh báo giá có thể giảm mạnh.

Như với tất cả các chỉ báo kỹ thuật, RSI cũng có những điểm hạn chế trong phân tích. Trong thị trường biến động mạnh hoặc đi ngang, RSI có thể đưa ra những tín hiệu sai. Một số trường hợp, RSI liên tục duy trì trong vùng quá bán hoặc quá mua trong thời gian dài.

Ngoài ra, RSI chỉ đo lường sự thay đổi của giá chứ không phải các yếu tố khác như khối lượng giao dịch. Nhà đầu tư nên cân nhắc kết hợp với các chỉ báo kỹ thuật khác để có thể hạn chế rủi ro.

Breakout là gì?

 

Breakout là thuật ngữ được sử dụng trong phân tích kỹ thuật, xuất hiện khi giá chứng khoán vượt qua một mức xác định.

Breakout là hiện tượng giá chứng khoán tăng đột biến vượt qua khỏi ngưỡng kháng cự hoặc giảm mạnh xuống dưới ngưỡng hỗ trợ.

Điểm breakout được xác nhận khi giá đóng cửa của nến nằm bên trên mức kháng cự hoặc dưới mức hỗ trợ. Nếu bóng nến nằm ngoài ngưỡng kháng cự hay hỗ trợ nhưng giá đóng cửa vẫn nằm trong vùng này thì chưa được tính là một breakout.

Một breakout thành công. Ảnh: TradingView

Một breakout thành công. Ảnh: TradingView

Nắm bắt được điểm breakout có thể mang về khoản lợi nhuận không hề nhỏ cho các nhà đầu tư. Tuy nhiên, trong không ít trường hợp, các điểm breakout đưa ra tín hiệu giả khiến nhà đầu tư lầm tưởng, qua đó rơi vào tình trạng mua đỉnh hay bán đáy.

Không phải breakout nào cũng thành công, nói cách khác là đủ lực để tạo thành một xu hướng mới. Breakout giả là hiện tượng giá vượt vùng kháng cự, hỗ trợ nhưng sau đó lại đột ngột đổi hướng.

Để nhận dạng được breakout giả, nhà đầu tư cần chú ý đầu tiên tới khối lượng giao dịch. Một breakout không thành công thường có khối lượng giao dịch thấp, cho thấy nhiều khả năng giá sẽ không đủ sức bứt ra khỏi ngưỡng hỗ trợ hay kháng cự mà có thể quay đầu tiếp tục di chuyển theo xu hướng cũ.

Bên cạnh đó, các nhà đầu tư có thể sử dụng các chỉ báo kỹ thuật để xác nhận tín hiệu đảo chiều và điểm breakout của giá. RSI (Relative Strength Index) là chỉ báo sức mạnh tương đối có khả năng đo lường mức độ thay đổi của giá. Dựa vào chỉ báo này, nhà đầu tư có thể đánh giá tình trạng quá mua hoặc quá bán trên thị trường, xác định xu hướng đảo chiều.

Giá cổ phiếu đảo chiều sau khi breakout.

Giá cổ phiếu đảo chiều sau khi breakout. Ảnh: TradingView

Trên thực tế, sẽ không có phương pháp nào có thể dự đoán chính xác hoàn toàn breakout thật hay giả. Việc sử dụng thêm các chỉ báo kỹ thuật khác sẽ hạn chế tối đa rủi ro nhà đầu tư có thể gặp phải.

Đối với các nhà đầu tư kinh nghiệm, họ sẽ xác định trước mục tiêu lợi nhuận, đặt lệnh chờ cắt lỗ (stop loss) để bảo toàn nguồn vốn nếu chẳng may phán đoán sai và gặp một breakout giả.

Ngoài các yếu tố kỹ thuật, nhà đầu tư không nên bỏ qua các tin tức kinh tế vì nó có thể ảnh hưởng đến tâm lý giao dịch, hỗ trợ dự đoán xu hướng của breakout.

Mây Ichimoku là gì?

 

Mây Ichimoku là chỉ báo kỹ thuật được dùng để xác định ngưỡng hỗ trợ và kháng cự, xu hướng, đo lường động lượng và cung cấp tín hiệu giao dịch.

Mây Ichimoku tên đầy đủ là Ichimoku Kinko Hyo, một chỉ báo phân tích kỹ thuật được phát triển bởi ông Satoru Hosoda, nhà báo người Nhật, và hoàn thiện vào năm 1969.

Chỉ báo này được gọi là mây Ichimoku vì nó có hình dạng giống như hình đám mây. Nó được xây dựng dựa trên các đường trung bình động (moving average), giúp nhìn ra những thông tin để giao dịch như xu hướng giá, ngưỡng hỗ trợ và kháng cự, tín hiệu ra vào lệnh. Bộ chỉ báo Ichimoku được cấu tạo bởi 5 đường trung bình động, bao gồm:

- Đường Tenkan-sen (đường chuyển đổi): được xác định bằng cách lấy tổng mức đỉnh cao nhất và mức đáy thấp nhất trong vòng 9 phiên giao dịch chia cho 2.

- Đường Kijun-sen (đường cơ sở): được xác định bằng cách lấy tổng của mức đỉnh cao nhất và mức đáy thấp nhất trong vòng 26 phiên giao dịch chia cho 2.

- Đường Senkou Span A: đường này được xác định bằng cách lấy tổng của đường Tenkan-sen và Đường kijun-sen sau đó đem chia cho 2. Thông thường đường Senkou Span A sẽ được vẽ về phía trước 26 phiên giao dịch.

- Đường Senkou Span B: đường này được xác định bằng cách lấy tổng của mức đỉnh cao nhất và mức đáy thấp nhất trong vòng 52 phiên chia cho 2. Giống như đường Senkou Span A, đường này cũng được vẽ về phía trước 26 phiên giao dịch.

- Đường Chikou Span: hay còn được gọi là đường trễ. Các giá trị của đường Chikou-Span chính là giá đóng cửa của phiên giao dịch hiện tại, vẽ lùi về sau (quá khứ) 26 phiên.

2 đường Senkou Span A và B tạo thành một vùng có hình dáng giống đám mây, gọi là mây Ichimoku hay còn có tên gọi riêng là Kumo.

Bộ chỉ báo Ichimoku với vùng mây Kumo được hình thành từ 2 đường Senkou Span A và B, đường chuyển đổi (xanh lam), đường cơ sở (màu đỏ) và đường trễ (xanh lục). Ảnh: TradingView

Bộ chỉ báo Ichimoku với vùng mây Kumo được hình thành từ 2 đường Senkou Span A và B, đường chuyển đổi (xanh lam), đường cơ sở (màu đỏ) và đường trễ (xanh lục). Ảnh: TradingView

Nếu Kumo có đường Senkou-Span A nằm ở trên thì được gọi là mây tăng, đám mây sẽ có màu xanh. Ngược lại, nếu Senkou-Span B nằm trên thì gọi là mây giảm, vùng mây sẽ có màu đỏ. Dựa vào đám mây Kumo, nhà đầu tư có thể nhận ra một số xu hướng của thị trường.

Khi mây Kumo chuyển từ màu đỏ sang màu xanh, tức đường Senkou Span A cắt Senkou Span B từ dưới lên, báo hiệu khả năng tăng giá. Trong khi đó, mây Kumo chuyển từ màu xanh sang màu đỏ , tức Senkou Span A cắt Senkou Span B từ trên xuống, cảnh báo một xu hướng giảm giá.

Mây Kumo đổi từ đỏ sang xanh. Ảnh: TradingView

Mây Kumo đổi từ đỏ sang xanh. Ảnh: TradingView

Nếu giá đang nằm cao hơn đám mây thì giá có xu hướng tăng lên cao hơn nữa và ngược lại, nếu giá đang thấp hơn đám mây thì giá có thể sẽ tiếp tục giảm. Trường hợp giá nằm bên trong đám mây, cho thấy xu hướng thị trường đang không rõ ràng.

Ngoài ra, đám mây càng dày cho thấy thị trường giao dịch sôi nổi và ngược lại khi nhìn thấy đám mây mỏng thì chứng tỏ thị trường giao dịch ảm đạm. Ví dụ như mây xanh dày cho thấy lực mua đang chiếm ưu thế, mây đỏ dày cho thấy lực bán đang áp đảo.

Nhà đầu tư cũng có thể dựa vào sự thay đổi của các đường trung bình động để dự đoán xu hướng của giá.

Khi đường chuyển đổi đi lên trên đường tiêu chuẩn, báo hiệu khả năng giá sẽ tăng, nhà đầu tư nên đặt lệnh mua. Ngược lại, khi đường chuyển đổi cắt xuống dưới đường tiêu chuẩn, khả năng giá sẽ giảm, nhà đầu tư cân nhắc đặt lệnh bán.

Hay khi đường Chikou Span cắt đường giá từ dưới lên báo hiệu giá sẽ tăng, trong khi đường Chikou Span cắt đường giá từ trên xuống, khả năng giá sẽ giảm.

Mây Ichimoku được đánh giá là một chỉ báo kỹ thuật nâng cao, cung cấp nhiều thông tin hơn các công cụ phân tích kỹ thuật thông thường. Tuy nhiên, đây cũng không phải là chỉ bảo phân tích hoàn hảo.

Mây Ichimoku là một hệ thống giao dịch theo xu hướng nên thường có một độ trễ nhất định. Trong một thị trường không rõ ràng xu hướng, Ichimoku có thể đưa ra những tín hiệu sai lệch. Mặc dù có thể sử dụng độc lập, nhà đầu tư vẫn nên kết hợp Ichimoku với các chỉ báo khác để giảm thiểu rủi ro khi giao dịch.

Chỉ báo Bollinger Bands là gì?


Bollinger Bands là một công cụ được sử dụng phổ biến trong phân tích kỹ thuật để đo lường biến động của thị trường.

Bollinger Bands là công cụ phân tích kỹ thuật được cấu tạo từ các đường trung bình động đơn giản (simple moving average). Chỉ báo này gồm có 3 dải, bao gồm:

- Dải giữa (Middle Band) là đường trung bình động đơn giản chu kỳ 20 ngày (SMA20); được tính bằng giá trị trung bình của giá đóng cửa.

- Dải trên (Upper Band) được tính bằng cách lấy đường SMA cộng với 2 lần độ lệch chuẩn

- Dải dưới (Lower Band) được tính bằng cách lấy đường SMA trừ đi 2 lần độ lệch chuẩn

Trong đó, độ lệch chuẩn cho thấy sự chênh lệch về giá trị của từng thời điểm đánh giá so với giá trị trung bình. Hơn nữa, nó là một đại lượng để đo mức độ phân tán của tập dữ liệu.

Các nhà giao dịch dài hạn có thể áp dụng chu kỳ dài hơn và độ lệch chuẩn cao hơn, trong khi các nhà giao dịch ngắn hạn có thể điều chỉnh chu kỳ và độ lệch chuẩn ở mức thấp hơn.

Chỉ báo Bollinger trên biểu đồ giá cổ phiếu VND. Ảnh: TradingView

Chỉ báo Bollinger trên biểu đồ giá cổ phiếu VND. Ảnh: TradingView

Thông thường, với thị trường trong xu hướng sideway, các nhà đầu tư có thể áp dụng chiến lược bán ra khi giá chạm vào dải trên và mua vào khi giá chạm vào dải dưới của Bollinger Band.

Tuy nhiên khi ở xu hướng tăng hoặc giảm mạnh của thị trường thì chiến lược này lại khá rủi ro.

Một trong những phương pháp giao dịch phổ biến khác khi sử dụng chỉ báo Bollinger Bands đó là sự thu hẹp (Bollinger Squeeze)

Sự thu hẹp là hiện tượng xảy ra khi 2 dải trên và dưới của Bollinger Band chuyển động lại gần nhau và dần tiến sát đến dải giữa, thể hiện rằng giá chứng khoán đang trong giai đoạn tích lũy, biến động thấp.

Đây là một tín hiệu cho thấy giá chứng khoán chuẩn bị có những biến động mạnh và nhanh trong tương lai. Tuy nhiên, dải bollinger thu hẹp không phải là tín hiệu giao dịch bởi bởi nó không dự báo cho xu hướng giá tăng hay giảm trong tương lai.

Dải Bollinger bó hẹp lại trước khi tăng mạnh. Ảnh: TradingView

Dải Bollinger bó hẹp lại trước khi tăng mạnh. Ảnh: TradingView

Cũng giống như các chỉ báo khác, dải Bollinger không phải lúc nào cũng chính xác 100%. Bên cạnh những thông tin Bollinger Band cung cấp, nhà giao dịch nên sử dụng cùng với các công cụ phân tích khác để xác định rõ hơn xu hướng thị trường, giảm thiểu rủi ro.

Dải Bollinger dựa trên đường trung bình động đơn giản, sử dụng các điểm dữ liệu trong quá khứ. Do đó, đây là một chỉ báo có dộ trễ, các dải sẽ luôn thay đổi với các động thái giá, và không dự báo chúng. Điều này có nghĩa là các nhà giao dịch có thể không nhận được tín hiệu giao dịch cho đến khi chuyển động giá đang diễn ra.

Hedging trong chứng khoán là gì?

 

Hedging giúp bảo vệ vốn khi thị trường đi theo hướng bất lợi, tuy nhiên cũng có thể khiến thua lỗ nhiều hơn nếu sử dụng thiếu kiểm soát.

Hedging (phòng vệ giá) là phương pháp giảm rủi ro khi đầu tư, bảo vệ danh mục khỏi biến động giá không mong muốn.

Về mặt kỹ thuật, để phòng vệ giá, nhà giao dịch cần mở một vị thế đối nghịch với vị thế đang nắm giữ đối với tài sản. Trong trường hợp giá tài sản biến động ngược lại so với kỳ vọng, tại vị thế hedging sẽ có lợi nhuận và phần lợi nhuận này bù đắp vào khoản lỗ của vị thế ban đầu.

Trên thị trường chứng khoán, hợp đồng tương lai là sản phẩm phát sinh cho phép nhà giao dịch bán khống và kiếm lời khi thị trường đi xuống. Theo đó, khi thị trường giảm điểm, hợp đồng tương lai sẽ mang lại lợi nhuận và bù vào số tiền thua lỗ từ danh mục đầu tư. Qua đó, nhà đầu tư sẽ giảm thiểu được rủi ro từ đà giảm của thị trường.

Dù vậy, tại Việt Nam, thị trường chứng khoán phái sinh mới chỉ cung cấp hai dòng sản phẩm cơ bản: hợp đồng tương lai chỉ số VN30 và hợp đồng tương lai trái phiếu chính phủ. Trong đó, hợp đồng tương lai chỉ số VN30 là phổ biến, còn hợp đồng tương lai trái phiếu chính phủ ít được giao dịch hơn, chủ yếu là các tổ chức tự giao dịch với nhau.

Bên cạnh đó, hedging cũng được áp dụng trên thị trường ngoại hối, thị trường hàng hóa, tiền điện tử, ....

Nghiệp vụ hedging sẽ do các nhà đầu tư quyết định và mức độ phòng ngừa rủi ro cũng sẽ tùy thuộc vào chiến lược đầu tư của mỗi người.

Bất cứ một nghiệp vụ hedging nào cũng đều tốn chi phí, nên nếu sử dụng quá nhiều thì tất nhiên sẽ tốn nhiều phí giao dịch. Vì vậy, nhà đầu tư nên kiểm soát, sử dụng hedging hợp lý thì lợi nhuận thu được có thể bù đắp những khoản phí trên.

Nghiệp vụ này cũng đòi hỏi kinh nghiệm, nếu không có thể khiến số dư tài khoản của nhà giao dịch còn giảm xuống nhanh hơn. Lấy ví dụ, nhà đầu tư đang giữ cả 2 vị thế mua và bán, khi giá đi xuống, họ đóng lệnh mua, giữ lệnh bán. Nhưng ngay sau đó, giá thay đổi lên nhanh, trong trường hợp này cả lệnh mua và bán đều lỗ vốn, chưa kể tới các chi phí giao dịch.

Chỉ báo Stochastic là gì?

 

Chỉ báo Stochastic thể hiện động lượng của giá, tạo cơ sở giúp nhà đầu tư tìm ra các điểm đảo chiều xu hướng.

Stochastic là chỉ báo thông dụng trong phân tích kỹ thuật, so sánh mức giá đóng cửa với một phạm vi giá trong một khoảng thời gian nhất định, qua đó thể hiện động lượng của giá.

Chỉ báo này được cấu tạo bởi 2 thành phần là đường %K và %D. Trong đó, %K là đường chính và %D là đường trung bình động 3 phiên của đường %K. Công thức tính %K như sau:

Chỉ báo Stochastic là gì?

Trong đó:

- C là Mức giá đóng cửa gần nhất

- L14 là mức giá thấp nhất trong vòng 14 phiên

- H14 là mức giá cao nhất trong vòng 14 phiên

Do đường %D được tạo ra từ %K, nên đường %K sẽ là đường nhanh hơn, trong khi đó đường %D sẽ là đường chậm hơn.

Khung thời gian được dùng phổ biến nhất là 14 phiên. Dù vậy, nhà đầu tư có thể tùy chỉnh khung thời gian sao cho phù hợp.

Bên cạnh đó, chỉ báo này còn có 2 đường biên 20 và 80 để xác định ngưỡng quá mua và quá bán.

Nếu chỉ báo vượt đường biên 80 cho thấy rằng chứng khoán đang trong tình trạng quá mua. Điều này cũng cảnh báo xu hướng tăng giá có khả năng bị đảo ngược.

Còn nếu chỉ báo vượt quá đường biên 20 cho thấy chứng khoán đang trong tình trạng quá bán và cũng là dấu hiệu cho thấy giá có thể gần chạm đáy, chuẩn bị quay đầu tăng.

Tùy thuộc vào chiến lược giao dịch mà nhà đầu tư có thể điều chỉnh chỉ báo, đặt 25 và 75 hay 30 và 70 là các mức quá bán và quá mua thay vì 20 và 80.

Chỉ báo Stochastic với đường %K (màu xanh) và &D (màu cam) và 2 ngưỡng biên 20 và 80. Ảnh: TradingView

Chỉ báo Stochastic với đường %K (màu xanh) và &D (màu cam) và 2 ngưỡng biên 20 và 80. Ảnh: TradingView

Dựa trên chỉ báo Stochastic, người ta nhận thấy khi đường %K giao với đường %D từ dưới lên là một tín hiệu giá tăng. Đây là thời điểm các nhà đầu tư cân nhắc mua vào. Ngược lại, khi đường %K cắt đường %D từ trên xuống báo hiệu giá đang trên đà giảm, nhà đầu tư cân nhắc vào lệnh bán.

Đường %K vượt lên trên đường %D. Ảnh: TradingView

Đường %K vượt lên trên đường %D. Ảnh: TradingView

Ngoài ra, chỉ báo Stochastic cũng cung cấp tín hiệu qua sự phân kỳ giữa đường %K và diễn biến giá của chứng khoán.

Khi giá đang tạo đáy thấp hơn nhưng đường %K lại tạo đáy cao hơn, đây là tín hiệu của phân kỳ tăng, nhà đầu tư cân nhắc việc bán cổ phiếu.

Khi giá đang tạo đáy cao hơn nhưng đường %K lại tạo đáy thấp hơn, đây là tín hiệu của phân kỳ giảm, báo hiệu sự đảo chiều từ giảm giá sang tăng giá, nhà đầu tư xem xét mua cổ phiếu.

Đáy đường %K và diễn biến giá tạo phân kỳ tăng. Ành: TradingView

Đáy đường %K và diễn biến giá tạo phân kỳ tăng. Ành: TradingView

Như với tất cả các chỉ báo kỹ thuật, Stochastic cũng có những điểm hạn chế trong phân tích. Trong một số trường hợp, chỉ báo liên tục duy trì trong vùng quá bán hoặc quá mua trong thời gian dài, tạo ra những tín hiệu giả khiến nhà đầu tư nhầm lẫn.

Để sử dụng được hiệu quả và thành thạo Stochastic yêu cầu nhà đầu tư linh hoạt với thị trường, cập nhật nhanh chóng cũng như lựa chọn những khung thời gian hợp lý. Đồng thời, nhà đầu tư nên sử dụng kết hợp với các công cụ phân tích khác để đưa ra được quyết định chính xác nhất.

Cổ tức là gì?

 

Việc chia cổ tức cho thấy doanh nghiệp hoạt động có lãi, có thể đem lại nguồn thu nhập thụ động lâu dài cho nhà đầu tư.

Cổ tức là gì?

Luật Doanh nghiệp 2020 quy định, cổ tức là khoản lợi nhuận ròng được trả cho mỗi cổ phần bằng tiền mặt hoặc bằng tài sản khác.

Việc chia cổ tức có nghĩa doanh nghiệp làm ăn có lãi.

Việc chia cổ tức có nghĩa doanh nghiệp làm ăn có lãi.

Có nhiều hình thức chi trả cổ tức, nhưng trả bằng tiền mặt và bằng cổ phiếu được áp dụng nhiều hơn.

Nếu chi trả bằng tiền mặt thì phải được thực hiện bằng Đồng Việt Nam và theo các phương thức thanh toán theo quy định của pháp luật. Tỷ lệ cổ tức sẽ được tính trên mệnh giá 10.000đ/cổ phiếu (không tính trên giá thị trường giao dịch hàng ngày).

Ví dụ: Ngày 6/7/2022, Công ty H. thực hiện chi trả cổ tức năm 2021 bằng tiền mặt với tỷ lệ 5%. Như vậy, cứ một cổ phiếu Hxx của công ty sẽ nhận được 10.000 x 5% = 500 đồng. Nếu cổ đông sở hữu 1.000 cổ phiếu sẽ nhận được 1.000 x 500 = 500.000 đồng.

Trường hợp chi trả cổ tức bằng cổ phần (thường dưới dạng cổ phiếu), công ty sẽ phát hành thêm cổ phiếu hoặc sử dụng cổ phiếu quỹ và chuyển vào tài khoản cổ đông dưới hình thức cổ phiếu thông thường.

Ví dụ: Ngày 20/6/2022, Công ty H. chốt danh sách trả cổ tức bằng cổ phiếu, tỷ lệ 10:3. Có nghĩa là, cổ đông nắm giữ 1.000 cổ phiếu Hxx. sẽ nhận được thêm 300 cổ phiếu Hxx.

Để được nhận cổ tức, nhà đầu tư cần nắm giữ cổ phiếu trước ngày giao dịch không hưởng quyền.

Sau khi chia cổ tức, giá cổ phiếu có sự điều chỉnh.

Công thức tính giá cổ phiếu điều chỉnh sau khi chia cổ tức:

Cổ tức là gì? - 1

Trong đó:

P': Giá cổ phiếu đã điều chỉnh sau khi chia cổ tức

P: Giá cổ phiếu trước ngày giao dịch không hưởng quyền

Pa: Giá cổ phiếu phát hành thêm dùng cho quyền mua ưu đãi

a: Tỷ lệ cổ phiếu phát hành thêm dùng cho quyền mua mua ưu đãi. Đơn vị tính %

b: Tỷ lệ chia cổ phiếu thưởng, trả cổ tức bằng cổ phiếu. Đơn vị tính %

C: Cổ tức bằng tiền.

Ví dụ minh họa:

Cổ phiếu Hxx ngày 16/6 có giá P = 22.000 đồng/cp. Ngày 17/6 là ngày giao dịch không hưởng quyền để thực hiện chi trả cổ tức cho cổ phiếu Hxx. Công ty trả cổ tức năm 2021 bằng tiền mặt 5% và bằng cổ phiếu 30%. Doanh nghiệp phát hành thêm 1,34 tỷ cổ phiếu theo mệnh giáo 10.000 đồng/cp để thực hiện tương ứng tỷ lệ 30%.

Vậy, cổ tức bằng tiền với tỷ lệ 5%, tương đương C = 500 đồng, a = 30%, b = 30%

Sau khi chia cổ tức, giá cổ phiếu Hxx điều chỉnh còn:

Cổ tức là gì? - 2

Cách tính thuế thu nhập từ cổ tức

Khi nhận cổ tức bằng tiền mặt, nhà đầu tư/cổ đông sẽ phải khấu trừ thuế thu nhập 5%. Nếu công ty trả cổ tức 500 đồng/cp, nhà đầu tư sẽ chỉ nhận được 475 đồng/cp.

Nếu nhận cổ tức trả bằng cổ phiếu, nhà đầu tư chưa phải khai và nộp thuế thu nhập cá nhân từ đầu tư vốn. Chỉ khi thực hiện quyền chuyển nhượng cổ phiếu, nhà đầu tư mới phải kê khai thuế thu nhập cá nhân, với mức khấu trừ 5% (chưa bao gồm thuế thu nhập cá nhân với thu nhập từ bán chứng khoán).

Nên mua cổ phiếu trước hay sau khi chia cổ tức?

Theo ý kiến từ nhiều chuyên gia, việc mua cổ phiếu trước hay sau khi chia cổ tức không quan trọng mà phụ thuộc vào chiến lược đầu tư của mỗi người, giá trị nội tại của doanh nghiệp niêm yết và cả xu hướng thị trường.

Đầu tư cổ phiếu theo cổ tức là chiến lược an toàn đối với các nhà đầu tư dài hạn, củng cố và gia tăng cổ phần tại công ty đó. Tuy nhiên, đối với nhà đầu tư ngắn hạn, việc doanh nghiệp chia cổ tức, nhất là cổ tức bằng cổ phiếu, sẽ không đem lại giá trị lợi nhuận cao.

Nếu muốn đầu tư cổ phiếu theo cổ tức, trước khi mua cổ phiếu, nhà đầu tư nên tìm hiểu các thông tin về ngày diễn ra Đại hội đồng cổ đông thường niên, ngày giao dịch không hưởng quyền, ngày đăng ký cuối cùng, mức độ tăng trưởng của doanh nghiệp niêm yết trong vòng hai quý gần đây, thị trường đang trong xu hướng tăng... để ra quyết định tùy theo chiến lược cá nhân.